![]() Alphonse Bertillon với phương pháp nhận diện mặt người
(Ảnh: Tư liệu thám tử tư GISS )
|
Năm 1935, cảnh sát tìm được ở biên giới Anh – Scotland hai chiếc đầu lâu và nhiều phần thân thể khác bị cắt rời, đang trong giai đoạn phân hủy. Họ ngờ rằng đó là xác của người phụ nữ có tên Isabella Ruxton, đã mất tích cùng với người hầu gái của mình cách đó hai tuần. Dựa vào ảnh chụp chiếc xương sọ và những ảnh cũ của bà Ruxton khi còn sống, cảnh sát khẳng định được nhận định trên là chính xác. Cùng với giám định của pháp y, cảnh sát đã có đủ chứng cứ để kết tội chồng của bà Ruxton và đưa hắn ra xử tử.
Năm 1954, bác sĩ Sam Sheppard cho biết, một kẻ đột nhập đã đánh vợ ông đến chết ngay tại nhà. Cảnh sát sử dụng bản miêu tả của hàng xóm sống xung quanh đó và dựng nên được một bức ảnh về nhân dạng của tên tội phạm. Và chính nhờ bức hình này mà Sheppard thoạt đầu bị kết án là giết vợ nhưng sau đó đã được tha bổng.
Đến giai đoạn những năm 1950, việc nghiên cứu xây dựng hình ảnh của các khuôn mặt từ sự làm chứng của nhiều người đã trở thành một môn khoa học thực thụ. Và các nhà nghiên cứu đã phát triển một bộ dụng cụ dùng để nhận diện, mà phần thứ nhất là một loạt tấm giấy có hình ảnh các loại khuôn mặt (vẽ tay). Căn cứ vào mẫu đó, nhân chứng có thể chọn ra loại hình tóc, mắt kính, miệng, mũi, mắt, xương má, tai, râu, ria, cằm và lông mày của kẻ bị tình nghi. Sau đó, những hình này được xếp chồng lên nhau và cho ra nhân diện tổng quát của kẻ đó. Nhân chứng có thể điều chỉnh khuôn mặt cuối cùng sao cho nó trùng khớp với hình ảnh trong trí nhớ của họ.
Sau này, các bộ nhận diện còn dùng ảnh thể hiện từng khuôn mặt người, nhưng vẫn theo những nguyên lý cổ điển. Các mẫu mặt và bộ phận trên cơ thể người được các nhà khoa học phát triển theo một mẫu chung nào đó và đưa tới đồn cảnh sát để bổ sung vào bộ dụng cụ nhận diện. Chẳng hạn như tại Canada, cảnh sát sử dụng tất cả 7 mẫu khuôn mặt, được coi là tổng hợp tất cả các đặc điểm trong nhân diện người để xác định kẻ tình nghi.
Bộ dụng cụ xác định nhân dạng đã giúp cảnh sát tìm ra và chặn đứng bàn tay của Harvey Glatman, một trong những tên giết người hàng loạt ghê tởm nhất trong lịch sử nước Mỹ. Năm 1950 tại Los Angeles, hắn đóng vai một người thợ chụp ảnh chuyên nghiệp, chuyên quyến rũ những phụ nữ trẻ muốn trở thành người mẫu. Hắn dụ họ ra sa mạc, trói họ lại, hãm hiếp và bóp cổ họ đến chết. Những người ở cùng phòng với nạn nhân đầu tiên đã miêu tả kẻ giết người cho cảnh sát. Dựa vào những lời miêu tả ấy, họ dựng nên bức chân dung của hắn chính xác một cách kỳ lạ. Nạn nhân thứ tư của Glatman tìm cách giật được súng của hắn và khống chế tên đồ tể. Chính những bức ảnh của kẻ tình nghi mà cảnh sát dựng được đã góp phần buộc Glatman phải cúi đầu nhận tội.
Ngày 14/7/1966, Richard Speck dắt súng và dao trong người, tới khu nhà ở của 9 nữ sinh ngành y. Hắn lần lượt hãm hiếp và giết chết 8 người và chuẩn bị tiếp tục gây án thì người thứ 9 may mắn trốn thoát. Cô gái duy nhất còn sống sót đã miêu tả chính xác nhân dạng của kẻ giết người. Khi bức ảnh được đưa ra rộng rãi trên báo chí thì một bác sĩ từng chăm sóc vết thương cho Speck đã nhận ra hắn.
Đến thập niên 1970, các nhà khoa học pháp y chấm dứt việc sử dụng những bộ công cụ nhận dạng, chuyển sang dùng tranh vẽ tổng hợp dựa vào miêu tả của các nhân chứng. Tuy nhiên, bộ công cụ nhận dạng hoàn toàn không rơi vào dĩ vãng. Nó tiếp tục được sử dụng hiệu quả hơn nhờ sự trợ giúp của máy tính. Nhờ công cụ này, nhân chứng được xem một loạt gương mặt theo từng nhóm cụ thể, phù hợp với miêu tả của họ, chứ không phải từng phần khuôn mặt như trước đây. Nhân chứng chỉ ra những đặc tính của khuôn mặt mẫu không giống với bộ mặt của kẻ tình nghi, và các nhà khoa học sẽ thực hiện các thay đổi cho đến khi chúng đạt độ chính xác cao nhất có thể. Hầu như không có hoạt động thay đổi nào liên quan tới nhận dạng người mà lại không thể thực hiện với bộ công cụ mới này.

